Blog cá nhân củall C H E R R Y ll tRấN

Viết blog hay nhận ngay sách HOT cùng nhiều phiếu mua hàng giá trị từ Vinabook Tham gia!

0 lượt xem 0 thích 0 bình luận

Chia sẻ:

chiến dịch điện biên phủ

09:50 - 23/11/2013 ll C H E R R Y ll tRấN Chưa có chủ đề

     Chiến dịch Điện Biên Phủ

13-3 đến 7-5-1954 :Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.

 

 

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp được cử làm Bí thư Đảng ủy kiêm Tư lệnh Bộ Chỉ huy chiến dịch. Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm chủ tịch Hội đồng cung cấp Mặt trận. Thiếu tướng Hoàng Văn Thái – Phó tổng tham mưu trưởng làm Tham mưu trưởng chiến dịch.


Đại tướng Võ Nguyên Giáp được cử làm Bí thư Đảng ủy kiêm Tư lệnh Bộ Chỉ huy chiến dịch. Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm chủ tịch Hội đồng cung cấp Mặt trận. Thiếu tướng Hoàng Văn Thái – Phó tổng tham mưu trưởng làm Tham mưu trưởng chiến dịch. Lê Liêm làm Chủ nhiệm Chính trị chiến dịch. Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp Trần Đăng Ninh phụ trách công tác đường sá, tiếp tế chiến dịch.

Lực lượng tham gia gồm các đại đoàn bộ binh 308, 312, 316, 304, 351 công pháo, các đơn vị thông tin, vận tải, quân y…, số quân khỏang 55.000 người và 260.000 dân công hỏa tuyến. Phương tiện và vật chất huy động gồm 628 ô tô, 11.800 thuyền, 20.000 xe đạp thồ và các loại xe thô sơ, hàng chục nghìn tấn vũ khí, đạn, lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh.

Thời gian đầu, khi địch chưa tăng cường lực lượng và hệ thống công sự, phương châm tác chiến của chiến dịch là “đánh nhanh, giải quyết nhanh”.

Ngày 26-1-1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đề nghị và được Bộ Chính trị đồng ý, chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Các mặt công tác chuẩn bị chiến dịch chuyển theo phương châm tác chiến mới.

Ngày 13-3, chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu và trải qua ba đợt :

Đợt I (từ 13 đến 17-3), các đại đoàn 312, 308 tiến công tiêu diệt các cụm cứ điểm Him Lam, Độc Lập và Bản Kéo (phân khu Bắc).

Đợt II (từ 30-3 đến cuối tháng 4), các đại đoàn 316, 308, 312 tiến công các cứ điểm phía Đông (các ngọn đồi C1, E, D, A1), xây dựng trận địa bao vây, đánh lấn, chia cắt tập đoàn cứ điểm, khống chế và triệt chi viện đường không của địch. Riêng trận đánh đồi A1 gặp khó khăn, ta phải tổ chức đánh đến ba lần.

Đợt III (từ ngày 1 đến 7-5), các đại đoàn 308, 312, 306 đánh chiếm các điểm cao còn lại ở phía Đông, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch ở phía Tây và chuyển sang tổng công kích, tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Từ ngày 13-3 đến 7-5, trong 56 ngày đêm, trải qua ba đợt chiến đấu, quân ta đã loại khỏi vòng chiến 16.200 tên, bắt sống toàn bộ bộ chỉ huy tập đòan cứ điểm do tướng Đờ Caxtri (De Casties) chỉ huy. Về đơn vị, diệt 21 tiểu đoàn (17 tiểu đoàn bộ binh và dù, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh); bắn rơi và phá hủy 62 máy bay, bắn hỏng 4 xe tăng, thu 30 trọng pháo, 6 xe tăng, hơn 30 nghìn chiếc dù, toàn bộ vũ khí, đạn, quân trang, quân dụng.

Đây là chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn nhất của quân đội ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ; là chiến thắng có ý nghĩa quyết địch đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, một chiến công vĩ đại trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, cổ vũ phong trào chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc trên thế giới.

Hình tư liệu về chiến thắng Lịch sử Điện Biên Phủ


Lính Pháp nhảy dù xuống chiếm đóng Điện Biên Phủ

 

 

 

Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Pleven và tướng De Castries thị sát cứ điểm

 

 

 

Các quan chức Pháp đi thị sát Điện Biên Phủ

 

 

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp

 

 

 

Tổng quân uỷ họp quyết định chủ trương tác chiến tại Điện Biên Phủ

 

 

 

Mở đường vào Điện Biên Phủ

 

 

 

Đoàn xe thồ vận chuyển lương thực

 

 

 

Chiến sĩ Lương Văn Soi vác hòm vũ khí nặng 100 kg

 

 

 

Kéo pháo vào chiến dịch

 

 

 

Trạm gác máy bay báo hiệu cho các đoàn xe vào chiến dịch

 

 

 

Máy bay Pháp xuất phát từ tàu sân bay đi đánh chặn đường tiếp viện

 

 

 

Vào chiến dịch...

 

Mở đầu chiến dịch, pháo 105 mm bắn xuống các vị trí của quân Pháp ở sân bay Mường Thanh

 

 

 

Chiến đấu trên đồi D1

 

 

 

Trận địa pháo 12,7 mm ở Điện Biên Phủ

 

 

 

Chiếc máy bay B26 trúng đạn bốc cháy

 

 

 

Đơn vị pháo phòng không 37 mm đã bắn rơi máy bay B26 của Pháp

 

 

 

Chăm sóc thương bệnh binh

 

 

 

Phút nghỉ ngơi giữa chiến hào

 

 

 

Những tù binh Pháp đầu tiên

 

 

 

Quân y Việt Nam chăm sóc thương binh Pháp

 

 

 

Vượt cầu gỗ đánh chiếm sân bay Mường Thanh

 

 

 

Đánh chiếm cầu Mường Thanh

 

 

 

Tấn công hầm tướng De Castries

 

 

 

Ăn mừng trên xác máy bay Pháp bị bắn rơi ở Mường Thanh

 

 

 

Tướng De Castries cùng bộ chỉ huy ra hàng

 

 

 

Cắm cờ trên nóc hầm De Castries

 

 

 

Nhân dân Mường Phăng tặng quà chiến sĩ

 

 

 

Lễ mừng chiến thắng ở lòng chảo Điện Biên Phủ

 

 

 

Chiến lợi phẩm thu được

 

 

 

Hồ Chủ tịch gắn huy chương cho Hoàng Đăng Vinh, người bắt De Castries

 

 

 

Tù binh Pháp ở Mường Phăng, Điện Biên Phủ

 

 

 

Chiến sĩ Điện Biên bắt tay thương binh Pháp

 

 

 

Ông Tạ Quang Bửu ký Hiệp định đình chiến ở Đông Dương
(Sao ở Điện Biên không có đường Tạ Quang Bửu nhỉ?)

 

Bộ đội trở về tiếp quản thủ đô


 

 

Nghệ thuật chọn lược đồ địa hình Chiến dịch Điện Biên Phủ
NGHỆ THUẬT CHỌN ĐỊA HÌNH, SỬ DỤNG VÀ KIẾN TẠO ĐỊA HÌNH TRONG CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ

Năm 1954, dân tộc Việt Nam đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ. Đó là đỉnh cao chói lọi của chiến công giữ nước giải phóng dân tộc, một lần nữa biểu hiện tài năng trí tuệ và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Một trong những sự kế thừa và phát huy truyền thống của tổ tiên ta xưa thể hiện rõ nét trong chiến công này là việc chọn địa hình Điện Biên Phủ, sử dụng và kiến tạo địa hình nơi đây để tạo ra ưu thế vượt trội, tìm ra cách đánh phù hợp dẫn tới chiến thắng.

1. Chọn địa hình Điện Biên Phủ

Mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch đều diễn ra trong một không gian nhất định. Bởi vậy, việc chọn địa hình, nghiên cứu địa hình để tìm ra cách đánh phù hợp, chắc thắng là điều rất cần thiết. Năm 938, để chặn đánh đoàn thuyền của quân Nam Hán do Hoằng Thao chỉ huy vào xâm lược nước ta, Ngô Quyền đã chọn vùng cửa biển sông Bạch Đằng là nơi có những cồn bãi, đầm lầy, kênh rạch, đặt điểm quyết chiến diệt gọn quân Hoằng Thao. Đến cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần 3, sông Bạch Đằng lại một lần nữa được chọn làm trận địa mai phục quy mô lớn, chôn vùi đạo quân của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông.

Trong thế kỷ XX, địa danh Điện Biên Phủ đã từng khiến cho nhân loại hướng về dải đất hình chữ S trên bán đảo Đông Dương, một nước nguyên là thuộc địa bị các thế lực thực dân xoá tên gần 100 năm trên bản đồ thế giới.

Điện Biên Phủ là một thung lũng lòng chảo rộng lớn nằm ở phía tây vùng núi rừng Tây Bắc, cách thủ đô Hà Nội khoảng 300km đường chim bay. Thung lũng này có chiều rộng khoảng 8km, chiều dài khoảng 18km, nằm gần biên giới Việt Lào, trên một ngã ba của nhiều tuyến đường quan trọng: phía đông bắc giáp với Lai Châu; phía đông nam giáp Tuần Giáo, Sơn La, Nà Sản; phía tây thông với LuôngPhabang; phía nam thông với Sầm Nưa.

Xung quanh thung lũng là một vùng núi rừng trùng điệp bao bọc. Núi có độ cao trung bình 500m, có mỏm đột xuất cao tới 1461m. Thung lũng Điện Biên  là cánh đồng bằng phẳng, đồng ruộng khô ráo về mùa khô. Nhưng ngay sát thung lũng về phía đông bắc có một dải địa hình đặc biệt gồm một số điểm nổi lên cao hơn mặt cánh đồng trên dưới 30m và hình thành một bức bình phong che chở cho thung lũng trên hướng Tuần Giáo - Điện Biên Phủ. Trong thung lũng còn có sông Nậm Rốm  chảy theo hướng bắc nam đổ xuống sông Nậm Hu.

Thời tiết Điện Biên Phủ chia làm 2 mùa rõ rệt. Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9. Vào mùa khô sương mù dày đặc từ 3 giờ chiều hôm trước tới 9 giờ sáng hôm sau. Về mùa mưa, mưa kéo dài, nhiều lũ, độ ẩm lớn.

Với vị trí địa lí và điều kiện thời tiết như vậy nên ngay khi quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ chúng ta đã nhận thấy những điểm yếu của địch và những thuận lợi cho ta ở địa hình này:

            Nằm cô lập giữa núi rừng trùng điệp mênh mông của Tây Bắc và thượng Lào, Điện Biên Phủ rất xa những căn cứ hậu phương của địch. Mọi việc tăng viện hoặc tiếp tế đều do đường hàng không đảm nhiệm. Nếu đường hàng không bị cắt đứt thì quân Pháp ở đây sẽ lâm vào thế bị động, phòng ngự trong những điều kiện khó khăn và nếu lâm nguy cũng khó rút quân được toàn vẹn.

            Bên cạnh đó, địa hình rừng núi vốn rất quen thuộc, thuận lợi trong tác chiến của ta. Những dãy núi trùng điệp xung quanh thung lũng Điện Biên trở thành vũ khí lợi hại cho quân đội ta khi đặt pháo ở những sườn núi để khống chế các căn cứ của địch tại cánh đồng Điện Biên.

            Về phía quân Pháp, trong đông xuân 1953-1954 đã có kế hoạch tập trung binh lực, tăng cường khối lực lượng cơ động chiến lược với 84 tiểu đoàn thiện chiến, trong đó 44 tiểu đoàn tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường. Nhưng chúng ta đã sử dụng một bộ phận bộ đội chủ lực tiến công vào những điểm mà địch tương đối sơ hở như Luông Phabang, Antôpơ, Tây Nguyên... buộc chúng phải phân tán lực lượng, phá sản kế hoạch quân sự Nava đã từng được chính giới Pháp và Mỹ đánh giá cao.

            Trong tình thế bị động đó thực dân Pháp đã buộc phải “ném” quân chủ lực xuống núi rừng Tây Bắc, điều mà trước đó trong kế hoạch Nava chưa từng đề cập tới.

Mặc dù vậy, quân Pháp vẫn nhận định rằng: Điện Biên Phủ là một địa bàn quan trọng, một vị trí chiến lược cơ động giữa miền Bắc Việt Nam, thượng Lào và miền tây nam Trung Quốc. Nơi đây có thể trở thành một căn cứ lục  quân và không quân có tác dụng lợi hại trong âm mưu bá quyền tại Đông Nam Á. Chúng lại dựa vào thế mạnh về hoả lực, về không quân để cho rằng quân của Việt Minh không thể tiến hành các hoạt động quân sự ở Điện Biên Phủ, một nơi quá xa hậu phương, rất khó khăn cho việc duy trì những tuyến chi viện hậu cần.

Rõ ràng, với cách nhìn của những nhà quân sự tư sản, các tướng lĩnh trong quân đội Pháp lúc bấy giờ đã không thể thấy hết được những khả năng của một quân đội nhân dân, của cả một dân tộc đang chiến đấu vì độc lập tự do; và càng không thể hiểu được tinh thần đấu tranh bất khuất, quyết chiến quyết thắng của con người Việt Nam với truyền thống hào hùng qua hàng ngàn năm lịch sử.

Với những nhận định như vậy, quân đội Pháp, đứng đầu là H.Nava đã chọn Điện Biên Phủ để xây dựng tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương. Sự lựa chọn này của địch đã trở thành một cơ hội tốt cho chúng ta để tiêu diệt sinh lực tinh nhuệ của địch và kết thúc chiến tranh. Tháng 12 năm 1953, Bộ chính trị đã hạ quyết tâm mở chiến dịch Điện Biên Phủ

Sau khi quyết định chọn địa hình Điện Biên Phủ, quân và dân cả nước đã dốc sức cho chiến dịch với một quyết tâm cao độ, tạo nên sức mạnh tổng lực đánh thắng kẻ thù trong một thế trận hiểm hóc, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ.

2. Kiến tạo địa hình Điện Biên Phủ

Nếu như dân tộc ta đã từng vót nhọn cọc gỗ cắm xuống sông Bạch Đằng tạo thành một bãi chướng ngại vật lớn để cản đường tháo chạy của địch; bộ binh và pháo binh ta cũng đã từng bí mật đào công sự mai phục hai bên bờ và trên cù lao giữa sông Rạch Gầm, Xoài Mút... thì một lần nữa những khéo léo trong nghệ thuật quân sự của tổ tiên lại được sử dụng thành công tại núi rừng Tây Bắc vào giữa thế kỷ XX.

Tại đây, quân Pháp đã xây dựng và củng cố hệ thống phòng ngự thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương lúc bấy giờ. Lực lượng phòng ngự ở đây có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội, 2 tiểu đoàn lựu pháo 105mm, 2 tiểu đoàn súng cối 120mm, 1 đại đội trọng pháo 155mm, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội xe vận tải, 1 phi đội máy bay thường trực. Tổng số quân lên tới 16.200 tên, chủ yếu là lính Âu, Phi tinh nhuệ, đặt dưới quyền chỉ huy của tướng Đờcátxtơri.

Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ có 49 cứ điểm, mỗi cứ điểm đều có hệ thống công sự, hàng rào vật cản, hoả lực để độc lập chiến đấu, đồng thời những cứ điểm gần nhau lại được tổ chức thành trung tâm đề kháng. Địch đã xây dựng 8 trung tâm đề kháng chia làm 3 phân khu:

Phân khu trung tâm ở ngay giữa cánh đồng Mường Thanh, tập trung gần 2/3 lực lượng của địch, có nhiều trung tâm đề kháng ủng hộ lẫn nhau và bao bọc lấy cơ quan chỉ huy. Chúng có sẵn một lực lượng pháo binh và cơ giới đủ sức đánh chặn mọi cuộc tiếp cận qua cánh đồng bằng phẳng; có sẵn một hệ thống công sự, dây thép gai và hào chiến đấu đủ sức tiêu hao và đánh lui mọi lực lượng tiến công; có sẵn một lực lượng pháo binh cơ giới và không quân đủ sức ngăn chặn và tiêu diệt các căn cứ pháo binh dễ phát hiện của quân ta.

Phân khu bắc gồm các trung tâm đề kháng là: đồi Độc lập và bản Kéo. Đồi độc lập có nhiệm vụ  án ngữ phía bắc, ngăn chặn cuộc tiến công của quân ta từ hướng Lai Châu vào Điện Biên Phủ.

Phân khu nam còn gọi là phân khu Hồng Cúm, có nhiệm vụ  ngăn chặn quân ta tiến công từ phía nam lên, đồng thời giữ đường liên lạc với Lào

Ngoài ra Điện Biên Phủ có 2 sân bay: sân bay chính ở Mường Thanh, sân bay dự bị ở Hồng cúm. Hai sân bay này được nối liền với Hà Nội, Hải Phòng bằng một cầu hàng không. Trung bình hàng ngày khoảng 100 lần máy bay vận tải tiếp tế từ 200 đến 300 tấn hàng và thả dù khoảng 100-150 tấn hàng xuống Điện Biên. Các tướng lĩnh Pháp rất tự hào về cầu hàng không này và đã từng huênh hoang rằng: “chỉ cần một lính Pháp ở đây bị đau răng thì buổi sáng có thể lên máy bay về Hà nội chữa răng, ăn trưa ở khách sạn Mêtrôpôn và buổi chiều quay trở lại Điện Biên Phủ để tiếp tục chiến đấu!”*.

Với lực lượng hùng hậu và cơ cấu phòng ngự như vậy, Điện Biên Phủ đã thực sự trở thành một tập đoàn cứ điểm khổng lồ mạnh nhất Đông Dương, cho phép quân đội Pháp, chính khách cấp cao tự hào, đặt niềm tin vào chiến thắng. Trong và sau thời gian xây dựng, tập đoàn cứ điểm này đã đón nhận được sự quan tâm và viếng thăm của khá nhiều chính khách phương Tây: Nava, CôNhi (Bộ trưởng quốc phòng Pháp); Plêven (Bộ trưởng các quốc gia liên kết); M.Giắckê (Bộ trưởng chiến tranh Pháp); Đơsovinhê (chỉ huy lực lượng bộ binh Mỹ ở Thái Bình Dương); Đanhien (tư lệnh quân đội Anh Ấn ở Viễn Đông) v.v...tất cả đều rất tâm đắc và cho rằng Điện Biên Phủ là một “pháo đài bất khả xâm phạm”, một “con nhím” giữa núi rừng Tây Bắc, thậm chí là “chiếc cối xay thịt” đối với quân đội Việt Minh.

Thực tế, cách thức phòng ngự mới này của địch đã trở thành một thách thức lớn đối với quân đội ta. Nhưng nếu chúng ta không tiêu diệt được tập đoàn cứ điểm này thì không đánh bại được hình thức đối phó mới nhất, cao nhất của địch, không đánh bại được sự cố gắng lớn nhất của chúng và không thể tiến tới kết thúc chiến tranh. Chiến trường Điện Biên Phủ lại ở cách xa hậu phương 400 - 500 km, các tuyến đường chi viện hết sức khó khăn nguy hiểm; không quân địch đánh phá, thời tiết không thuận lợi, mùa mưa đến gần nên việc chi viện cho mặt trận càng khó khăn hơn.

Nhưng với quyết tâm cao độ, quân và dân ta đã phân tích những điểm mạnh, yếu của địch, cải tạo những khó khăn về mặt địa hình, lợi dụng địa thế để bố trí thế trận tiến công:

Trước hết chúng ta đã gấp rút mở con đường Tuần Giáo - Điện Biên đi qua những đồi núi liên tiếp, nhiều dốc cao và vượt qua gần 100 con suối lớn nhỏ để vận chuyển pháo vào trận địa.

Lúc đầu khi địch còn sơ hở, pháo binh của ta đã được di chuyển bằng xe hơi đến vùng phụ cận Điện Biên Phủ, rồi từ đó cho tới trận địa lâm thời, bộ đội ta đã dùng sức người để kéo pháo suốt bảy ngày đêm. Khi địch phát hiện và đánh phá ác liệt, chúng ta phải dùng sức người để kéo pháo trên con đường này dài tới 18km, qua nhiều núi đèo, nơi cao nhất là 1000m và thấp nhất là 600m so với mặt biển. Trong mười ngày đêm, những khẩu pháo 150 mm và pháo cao xạ 37 mm vượt đèo cao suối sâu một cách bí mật vào trận địa.

Tiếp đó, chúng ta đã mở năm con đường mới để vận chuyển pháo binh bằng xe hơi. Đây là những con đường được mở qua các sườn núi và ngọn đèo ở xung quanh Điện Biên Phủ, trong tầm hoả lực pháo binh của địch. Những con đường này được ngụy trang kín đáo, giữ được bí mật trong suốt chiến dịch góp phần tạo nên yếu tố bất ngờ.

Địch vẫn dự đoán quân và dân ta sẽ không thể có cách nào để chuyển pháo binh đến gần các tập đoàn cứ điểm của chúng. Nếu vận chuyển bằng đường bộ thì không thể sử dụng xe cơ giới vì địa hình quá nhiều dốc núi hiểm trở. Hơn nữa, nếu quân ta có hành động di chuyển pháo bằng xe cơ giới thì chúng hoàn toàn có khả năng sử dụng các phương tiện quan sát hiện đại để phát hiện và dùng pháo binh, không quân để oanh tạc ngay lập tức. Chúng không thể ngờ đến việc chúng ta dùng sức người để thực hiện công việc kéo pháo.

Thế nhưng chúng ta đã xây dựng được những trận địa pháo kiên cố một cách bất ngờ. Pháo được bố trí phân tán trên các điểm cao thành một đường vòng cung bao vây tập đoàn cứ điểm và có thể ngắm bắn trực tiếp các mục tiêu ở dưới lòng chảo. Các trận địa này được xây dựng sâu vào sườn núi của dãy Tà Lèng và Pú Hồng Mèo, lại được ngụy trang rất kín đáo nên máy bay trinh sát địch rất khó phát hiện. Ngoài những trận địa thật, chúng ta lại tổ chức những trận địa nghi binh để làm lạc hướng quân địch.

Khi chiến trường bắt đầu nổ súng, pháo binh ta từ ba bốn hướng bắn vào một trung tâm, pháo lại được đặt trong hầm, khoét sâu ở triền núi có nắp ngụy trang. Còn pháo binh của địch từ một trung tâm phải quay vòng bắn ra bốn phía nên đã buộc phải phơi mình bộc lộ trên trận địa dã chiến. Vậy là ngay từ đầu, cuộc tập kích bằng pháo của ta đã rất bất ngờ và biến điểm mạnh của địch thành điểm yếu. Trong suốt 55 ngày đêm pháo binh ta ở trận địa che khuất được an toàn, trong khi 80% số bom đạn của địch đã đánh vào trận địa giả của ta. Có thể thấy việc tận dụng địa hình để ngụy trang và nghi binh của quân ta đã thành công lớn.

Bên cạnh việc xây dựng trận địa pháo ở sườn núi và những nơi địch không ngờ tới, chúng ta đã hình thành một hệ thống chiến hào, giao thông hào vượt qua thung lũng từ nhiều hướng, tạo thành thế trận ngày càng vây chặt cả tập đoàn cứ điểm của địch.

Những tuyến chiến hào dài khoảng hơn 100 km và việc đào công sự được thực hiện liên tục thường xuyên. Dựa trên những yêu cầu về chiến thật, chúng ta đã xây dựng 2 loại đường hào: đường hào trục dùng cho việc cơ động pháo, vận chuyển thương binh, điều động bộ đội với số lượng lớn và đường hào tiếp cận địch của bộ binh.

Loại đường hào thứ nhất chạy một vòng rộng bao quanh toàn bộ trận địa địch ở phân khu trung tâm. Loại đường hào thứ hai chạy từ những vị trí trú quân của đơn vị trong rừng đổ ra cánh đồng cắt ngang đường hào trục, tiến vào vị trí địch mà ta sẽ tiêu diệt.

Các loại đường hào này đều có chiều sâu 1,7m và  không quá rộng để bảo đảm an toàn trước bom đạn địch, giữ bí mật cho bộ đội khi di chuyển. Đáy của đường hào bộ binh rộng 0,5m, đáy hào trục rộng 1,2m. Dọc đường hào, bộ binh có hố phòng pháo, hầm trú ẩn, chiến hào và ụ súng để đối phó với những  cuộc tiến công của địch.

 Trận địa hào được xây dựng vào ban đêm, nguỵ trang rất kỹ và triển khai cùng một lúc trên toàn thể mặt trận nên đã phân tán được sự chống phá của địch. Việc đào hào, xây dựng trận địa thực sự đã là một cuộc chiến đấu. Bộ đội ta đã phải lao động cật lực từ 14 đến 18 tiếng mỗi ngày với những công việc liên tục như chuẩn bị vật liệu, đốn gỗ, chặt lá ngụy trang. Thời tiết lại không thuận lợi: mưa dầm, gió bấc, công sự lầy lội bùn nước,...thậm chí mỗi tấc đất công sự đào được phải đổi bằng máu dưới làn mưa bom bão đạn của địch.Và cuối cùng bộ đội ta đã đưa trận địa chiến hào vào sát khu trung tâm tập đoàn cứ điểm, tạo ra một vòng vây siết chặt quân địch.

Thành công của trận địa bao vây là đã giải quyết được vấn đề tiếp cận địch trên địa hình bằng phẳng, vận chuyển lực lượng, giữ vững trận địa, tiến hành chiến đấu liên tục ngày đêm, hạn chế tới mức cao tác dụng của pháo binh và không quân địch.

Theo từng đợt tiến công, trận địa chiến hào bao vây của ta đã ngày càng thắt chặt, hoả lực bộ binh và pháo binh đã khống chế các khu trung tâm, đặc biệt là sân bay Mường Thanh được coi là “con át chủ bài” trong việc chi viện tiếp tế. Khi sân bay bị thất thủ, đồng thời với việc cầu hàng không bị cắt đứt hoàn toàn (đây có thể coi là một thành công lớn của quân ta), hàng vạn quân Pháp bị đẩy vào chỗ nguy khốn nghiêm trọng: thiếu lương thực, thuốc men, đạn dược trong một thung lũng lầy lội, rừng thiêng nước độc. “Lúc này Điện Biên Phủ thực sự trở thành một địa ngục đối với kẻ địch. Ở một địa thế trũng, những trận mưa đầu mùa đã làm rữa nát các công sự của chúng. Trời mưa bọn chúng sống trên mặt nước. Trời nắng cũng chẳng hơn gì, chúng vẫn nằm trên bùn và bùn dưới ánh mặt trời trở nên thật ngột ngạt”(1, tr.178).

Và như vậy những cơn mưa rừng của Điện Biên, những ngọn núi, những dải đất ở thung lũng Mường Thanh cũng đã trở thành vũ khí lợi hại để uy hiếp địch, buộc quân Pháp phải kéo cờ trắng đầu hàng.

Có thể thấy rằng, yếu tố “thiên thời, địa lợi” đã đóng vai trò quan trọng vào chiến thắng oanh liệt ở Điện Biên Phủ, chiến thắng đã ghi dấu vào lịch sử của dân tộc Việt Nam như “một Bạch Đằng, một Chi Lăng, một Đống Đa giữa thế kỷ XX”. Tuy nhiên dân tộc Việt Nam vẫn thường có câu “thiên thời, địa lợi, nhân hoà”, có “nhân hoà” mới tác động, phát huy được “thiên thời” và “địa lợi”. Đó cũng là quá trình biểu hiện sự nỗ lực chủ quan rất lớn của dân tộc. Nhờ sự nhất trí đồng lòng của toàn dân mà chúng ta đã khắc phục được những khó khăn nhược điểm, thiếu thốn; dựa vào địa hình, địa thế để sáng tạo cách đánh địch phong phú, hạn chế  chỗ mạnh và khoét sâu chỗ yếu của địch để chiến thắng.

Trong chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng ta đã lợi dụng được địa hình hiểm trở của núi rừng để đề ra các phương thức tác chiến trong mỗi trận đánh: cách thức kéo pháo vào trận địa, dấu pháo ở sườn núi, đào công sự, hầm hào,... Nhưng tất cả những yếu tố đó đều được đặt trên một nền tảng quan trọng là sự đồng lòng đồng sức của tinh thần “tất cả cho tiền tuyến và tất cả để chiến thắng”.

 Nhân dân ở vùng tự do Thanh - Nghệ tĩnh, vùng mới giải phóng Tây Bắc cũng như vùng sau lưng địch đều hăng hái tham gia phục vụ trận tuyến. Chúng ta đã tổ chức những tuyến cung cấp dài 400 - 500 km từ Thanh Hóa, Phú Thọ đến Tây Bắc. Chúng ta đã huy động mọi phương tiện hiện đại và thô sơ có thể huy động được để vận chuyển lương thực, đạn dược ra mặt trận. Các đoàn xe ôtô đi không đèn trong suốt nhiều đêm, hàng vạn xe đạp thồ, xe đẩy thô sơ, hàng ngàn thuyền mảng, đoàn lừa, ngựa được sử dụng để vận chuyển lương thực, đạn dược qua đường lớn, đường nhỏ, suối sâu, đèo cao, chi viện cho tiền tuyến. Cả dân tộc Việt Nam đã đảm bảo công việc hậu cần cho một lực lượng bộ đội lớn, tác chiến trên một mặt trận rất xa hậu phương, trong một thời gian dài; một việc làm mà quân Pháp không thể lường trước được, nằm ngoài sức tưởng tượng của chúng.

Rõ ràng tinh thần quyết chiến, quyết thắng, đoàn kết đồng lòng, đồng sức của dân tộc ta và nghệ thuật phát huy yếu tố “thiên thời, địa lợi” đã là những nhân tố quyết định tạo nên sức mạnh tổng lực làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.

Một số bài thơ của Bác Hồ viết về Điện Biên Phủ
 Bác Hồ kính yêu của chúng ta, sinh thời Người luôn coi văn học nghệ thuật như một hoạt động tinh thần phong phú, phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng. Trong những năm kháng chiến chống Pháp vô cùng gian khổ, thiếu thốn, phải sống cảnh cháo bẹ rau măng, sáng ra bờ suối, tối vào hang…, nhưng sau mỗi lần bàn xong việc quân, việc nước, Bác lại thả hồn mình với cảnh sắc thiên nhiên, làm bạn với trăng sao, suối rừng.  Hoặc có khi Bác chống gậy lên non xem trận địa, để suy ngẫm về thế và lực của ta, và thấy được: Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu/ Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy. Và mỗi tin thắng trận  là một tứ thơ làm vui lòng Bác, thi hứng trỗi dậy, và Người có ngay những vần thơ trữ tình. Đặc biệt, chiến dịch Điện Biên Phủ đã làm Bác nhiều đêm không ngủ, trăn trở, âu lo. Nhưng Bác đã có tiên đoán về sự thắng lợi ngay từ chiến dịch Đông Xuân 1952: …Kháng chiến vừa sáu năm/ Trường kỳ và gian khổ/ Chắc thắng trăm phần trăm  (Thơ chúc Tết xuân Nhâm Thìn).

 

       Chiến thắng Điện Biên Phủ có ý nghĩa quyết định đem lại hoà bình độc lập cho Việt Nam. Bộ đội chủ lực của ta phải rải ra ở nhiều chiến trường, được nhân dân yêu mến gọi là vệ quốc quân, là bộ đội Cụ Hồ. Bác thấu hiểu nỗi gian lao vất vả của các anh. Để động viên các chiến sĩ ngoài mặt trận, Người đã viết bài thơ Tặng bộ đội Điện Biên Phủ:

 

                                    Đá rắn, quyết tâm ta rắn hơn đá

                                   Núi cao, chí khí ta còn cao hơn.

                                   Khó khăn ta quyết tâm vượt cho kỳ được

                                   Gian khổ không thể làm lòng ta sờn…

 

Bài thơ có giọng chắc khoẻ như một lời hiệu triệu thể hiện rõ quyết tâm sắt đá của quân dân ta. Các hình ảnh đá rắnnúi cao tưởng như đã trở thành ước lệ, nhưng được Bác đặt vào hai vế đối, cùng với nhiều thanh trắc đi liền nhau đã hình tượng hoá sức mạnh và ý chí của quân đội ta. Bộ đội, dân công của ta lúc bấy giờ cũng rất thích câu hò: Hò ơ… Đèo cao thì mặc đèo cao/ Tinh thần chiến đấu còn cao hơn đèo.

      Ngày 20/11/1953 theo kế hoạch Na-va, hai mươi mốt sư đoàn tinh nhuệ cùng với máy bay, xe tăng, đại bác của thực dân Pháp đã nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Ngày 13/3/1954 ta bắt đầu tấn công Điện Biên Phủ, và sau 56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt/ máu trộn bùn non/ gan không núng, chí không mòn (Tố Hữu), trưa ngày 7/5/1954, ta đã giành thắng lợi vẻ vang, kết thúc:

 

                                       Chín năm làm một Điện Biên

                                Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng  (Tố Hữu).

 

Mặc dù rất bận, nhưng chỉ sau 5 ngày toàn thắng, Bác đã sáng tác một bài thơ khá dài so với thường lệ của thơ Người để chào mừng chiến thắng lịch sử vĩ đại này. Đó là bài Quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ (đăng báo Nhân dân số 184 - ngày 12/5/1954 – bút danh CB).

 

     Bài thơ có 45 câu chia thành 5 khổ theo thể 7 chữ, vần chân, nó như một bản thông tin nhanh, có số liệu cụ thể nhưng rất giàu hình ảnh dễ nhớ, dễ thuộc. Khổ thứ nhất có 10 dòng tập trung giới thiệu về âm mưu và binh lực của kẻ địch. Đồng thời Bác chỉ ra thói hợm hĩnh, kiêu căng của kẻ thù, và đó chính là một trong những nguyên nhân đã dẫn đến thất bại thảm hại của chúng, mặc dù thực dân Pháp đã được bọn quan thầy Mỹ hỗ trợ tích cực: 

 

                      20 tháng 11 năm cũ

                      Giặc Pháp nhảy dù Điện Biên Phủ

                      Hăm mốt tiểu đoàn tinh nhuệ nhất

                                     Xe tăng, súng lớn đầy chồng chất

                      Chúng khoe rằng: “Kế hoạch Na- va”

                      Thật là mạnh dạn và tài hoa

                      Phen này Việt Minh phải biết tay

                      Quan thầy Mỹ thì vui lòng thay

                      Các báo phản động khắp thế giới

                      Inh ỏi tâng bốc Na-va tới.

 

      Khổ thứ hai có 9 dòng thể hiện quyết tâm của bộ đội, dân công lặng lẽ chuẩn bị, và hứa với Đảng, Bác, Chính phủ sẽ giành thắng lợi:

 

                      Bên ta thì

                      Bộ đội, dân công quyết một lòng

                                      Xẻ non, đắp suối, vượt qua sông

                      Khắc phục khó khăn và hiểm trở

                      Đánh cho giặc tan mới hả dạ

                      Lặng lẽ chuẩn bị suốt tháng ngày

                      Không quản gian khổ và đắng cay

                      Quyết tâm làm cho tròn nhiệm vụ

                      Đã hứa với Đảng, Bác, Chính phủ.

Yếu tố bí mật, lặng lẽ chuẩn bị và hành động xẻ non, đắp suối, vượt qua sông của quân ta đã cùng với quyết tâm cao là những yếu tố dẫn đến thắng lợi. Những câu thơ thật gân guốc, chân thực như chính cuộc sống vốn có, tạo nên niềm tin yêu và sức mạnh để ta mở màn chiến dịch, khai tử chủ nghĩa thực dân Pháp trên đất nước ta.

 

       Khổ thứ ba chỉ với 8 dòng nhưng đã khắc hoạ được khá rõ nét giấc mộng chủ quan của các tướng Pháp như Na-va cùng Cô-nhi ỷ vào quan thầy Mỹ, nuôi ảo tưởng:

 

                                     13 tháng 3 ta tấn công

                       Giặc còn ở trong giấc mơ mòng

                       Mình có thầy Mỹ lo cung cấp

                       Máy bay cao cao, xe tăng thấp

                       Lại có Na-va cùng Cô-nhi

                       Những tay tướng giỏi nắm chỉ huy

                       Chúng mình chuyến này nhất định thắng

                       Việt Minh ắt thua chạy quýnh cẳng.

 

Đoạn thơ như một màn hài kịch mỉa mai giấc mơ mòng của bọn tướng lĩnh và quan thầy Pháp. Ở đây châùt trào lộng uy-mua hóm hỉnh trong thơ Bác lại có dịp xuất hiện, tạo ra tiếng cười châm biếm thói kiêu căng, hùng hổ của kẻ thù, để rồi chúng sẽ xem ai phải chạy quýnh cẳng?  Đó cũng là dự báo cho sự thất baị của quân đội viễn chinh Pháp.

 

       Ở khổ thứ tư của bài thơ lại kéo dài ra 12 câu diễn tả chiến thắng liên tiếp của quân ta với những thống kê rất chi tiết. Sự đối lập trong cấu tứ tăng tiến:

 

                        Hơn 50 ngày, ta đánh đồn

                        Ta chiếm một đồn, lại một đồn

                                         Quân giặc chống cự tuy rất hăng

                        Quân ta anh dũng ít ai bằng

                        Na-va, Cô-nhi đều méo mặt

                        Quân giặc tan hoang, ta vây chặt

                        Giặc kéo từng loạt ra hàng ta

                        Quân ta vui hát “khải hoàn ca”

                       13 quan năm đều hàng nốt

                        Tên tướng chỉ huy cũng bị nhốt 

                        Một vạn sáu ngàn tên giặc Tây

                        Đều làm tù binh, hoặc bỏ thây.

 

Đây là bức tranh công đồn khí thế ngút trời của quân ta và sự thất bại thảm hại của kẻ thù. Tất cả ảo mộng của bọn chúng đều tan biến như mây khói, khi chưa đầy hai tháng ta mở chiến dịch. Đọc tới đây ta như thấy hào khí của cha ông trong Bình Ngô đại cáo lại hiện về. Tướng De Castries, Nava, Cônhi và 13 quan năm trước đây huênh hoang, hợm hĩnh bao nhiêu, thì nay ỉu xìu, méo mặt bấy nhiêu. Đứa bỏ thây, đứa bị bắt làm tù binh có khác chi bọn Vương Thông, Mã Anh, Phương Chính, Hoàng Phúc, Lý Khánh…những binh hùng tướng mạnh của nhà Minh ở thế kỷ XV đã bị quân dân nhà Lê đánh cho tan tác, tơi bời, dưới sự chỉ huy tài ba, lỗi lạc của Lê Lợi, Nguyễn Trãi. Chính đường lối chiến thuật thế trận xuất kỳ, dùng quân mai phục, lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều  của cha ông ta đã được vận dụng vào cuộc kháng chiến chống Pháp, làm cho quân địch nhiều phen phải méo mặt. Đây là tiếng reo vui hả hê nhất, là hồi kèn xung trận, là khúc khải hoàn của quân ta, đồng thời là một màn bi kịch đối với quân Pháp.

 

      Khổ thứ năm kết thúc bài thơ chỉ với 6 câu ngắn gọn, Bác đã tổng kết thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, chỉ ra nguyên nhân ta thắng, địch thua. Và xem đó là một món quà đặc biệt mà Bác rất mong bộ đội, dân công sẽ dâng lên mừng thọ Bác 64 tuổi:

 

                                       Thế là quân ta đã toàn thắng

                       Toàn thắng là vì rất cố gắng

                       Chiến sĩ viết thư dâng Cụ Hồ

                       Xin Bác vui lòng mà nhận cho

                       Món quà chúc thọ sinh nhật Bác

                       Chúng cháu cố gắng đã sắm được.

 

     Trong thời gian này, Bác còn viết một lá thư: Gửi toàn thể cán bộ và chiến sĩ ở Điện Biên Phủ trong đó có những đoạn rất vui: Toàn thể các chú cũng như cán bộ và chiến sĩ ở toàn quốc quyết tâm giành được thắng lợi lớn để chúc thọ Bác… Bác quyết định khao các chú. Khao thế nào tuỳ theo điều kiện, nhưng nhất định khao. Quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ chính là món quà tinh thần quý nhất, đẹp nhất của tất cả chúng ta dâng lên Người. Niềm mong mỏi, khát vọng cháy bỏng của Bác về chiến dịch ĐBP đã biến thành sự thật.

 

        Bài thơ Quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ có kết cấu mạch lạc theo hình thức đọc tấu dân gian, có giọng điệu kể rất vui trong cung bậc thể hiện tình cảm chân thành, niềm vui và hy vọng của Người. Có thể xem đây là bản tổng kết chiến thắng Điện Biên Phủ một cách ngắn gọn nhất bằng thơ. Ngôn ngữ của bài thơ là thứ ngôn ngữ ý vị như như ngôn ngữ của người dân quê Việt Nam. Người khéo dùng tục ngữ, hay nói ví, thường có lối châm biếm kín đáo và thú vị (Phạm Văn Đồng). Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Bác còn viết bài Na-va Chinh phu ngâm để tống tiễn Na-va về Tây - ký bút danh CB - trong đó có câu:

 

                                             Thua to ở trận Điện Biên

                                       Vì ai kế hoạch mà nên nỗi này!

 

Cuối bài thơ Bác ghi chú ý: “Chinh phu” chứ không phải “Chinh phụ”. Có nghĩa rằng khúc ngâm ai oán này không còn là của người vợ lính trong khúc ngâm nổi tiếng, nguyên bản của Đặng Trần Côn… mà là khúc ngâm của chính người lính viễn dương thất trận Na-va, vì kế hoạch  tan thành mây khói.

 

      Mười năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ - ngày 12-11-1964, trên báo Nhân dân số 3878, với bút danh “Chiến sĩ”, Bác viết bài văn Uy danh lừng lẫy khắp năm châu, trong đó có bốn câu thơ dự báo sự thất bại của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam:

 

                                         Uy danh lừng lẫy khắp năm châu

                                        Đạn cối tuôn cho Mỹ bể đầu

                                        Thành đồng trống thắng lay Lầu trắng

                                        Điện Biên, Mỹ chẳng phải chờ lâu.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là bài học đầu tiên cho thực dân Pháp, và đó cũng là bài học tiếp theo cho bất kỳ kẻ thù nào dám tới xâm phạm bờ cõi ta. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, quân đội ta lớn mạnh trùng trùng, điệp điệp, cao như núi, dài như sông”(Tố Hữu), và đã góp phần đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ (Di chúc của Bác).

 

     Kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ mỗi chúng ta đọc lại những vần thơ của Bác viết về chiến dịch vĩ đại này, ta không khỏi bồi hồi xao xuyến xen lẫn tự hào, tin yêu về Đảng, Bác và dân tộc ta, về chiến thắng Lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu. Vui sướng biết bao, khi bè bạn năm châu mỗi khi gặp các bạn Việt Nam đều hô vang: Hồ Chí Minh- Điện Biên Phủ! Chiến thắng Điện Biên Phủ đẹp như một huyền thoại đi vào thơ, ca, nhạc, hoạ… làm rạng rỡ đất nước ta, đưa Tổ quốc lên đỉnh vinh quang chói lọi:

 

                                    Đêm lịch sử, Điện Biên sáng rực

                                   Tên đất nước, như huân chương trên ngực

                                   Dân tộc ta, dân tộc anh hùng!

                                                        (Hoan hô chiến sĩ Điện Biên - Tố Hữu). 

Bài thơ hoan hô chiến sĩ Điện Biên Phủ
I 

Tin về nửa đêm 
Hỏa tốc hỏa tốc 
Ngựa bay lên dốc 
Đuốc chạy sáng rừng 
Chuông reo tin mừng 
Loa kêu từng cửa 
Làng bản đỏ đèn, đỏ lửa... 

Hoan hô chiến sĩ Điện Biên 
Hoan hô đồng chí Võ Nguyên Giáp! 
Sét đánh ngày đêm 
xuống đầu giặc Pháp! 
Vinh quang Tổ quốc chúng ta 
Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 
Vinh quang Hồ Chí Minh, Cha của 
chúng ta ngàn năm sống mãi 
Quyết chiến quyết thắng, cờ đỏ 
sao vàng vĩ đại 

Kháng chiến ba nghìn ngày 
Không đêm nào vui bằng đêm nay 
Đêm lịch sử Điện Biên sáng rực 
Trên đất nước, như 
Huân chương trên ngực 
Dân tộc ta dân tộc anh hùng! 

Điện Biên vời vợi nghìn trùng 
Mà lòng bốn biển nhịp cùng lòng ta 
Đêm nay bè bạn gần xa 
Tin về chắc cũng chan hòa vui chung. 

II 

Hoan hô chiến sĩ Điện Biên 
Chiến sĩ anh hùng 
Đầu nung lửa sắt 
Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, 
ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt 
Máu trộn bùn non 
Gan không núng 
Chí không mòn! 
Những đồng chí thân chôn làm 
giá súng 
Đầu bịt lỗ châu mai 
Băng mình qua núi thép gai 
Ào ào vũ bão, 
Những đồng chí chèn lưng cứu pháo 
Nát thân, nhắm mắt, còn ôm... 
Những bàn tay xẻ núi lăn bom 
Nhất định mở đường cho xe ta 
lên chiến trường tiếp viện 

Và những chị, những anh ngày 
đêm ra tiền tuyến 
Mấy tầng mây gió lớn mưa to 
Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ 
Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát 
Dù bom đạn xương tan, thịt nát 
Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh... 
Hỡi các chị, các anh 
Trên chiến trường ngã xuống 
Máu của anh chị, của chúng ta 
không uổng 
Sẽ xanh tươi đồng ruộng Việt Nam 
Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam 
Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng... 

III 

Lũ chúng nó phải hàng, phải chết 
Quyết trận này quét sạch Điện Biên! 
Quân giặc điên 
Chúng bay chui xuống đất 
Chúng bay chạy đằng trời? 
Trời không của chúng bay 
Đạn ta rào lưới sắt! 
Đất không của chúng bay 
Đai thép ta thắt chặt! 

Của ta trời đất đêm ngày 
Núi kia, đồi nọ, sông này của ta 
Chúng bay chỉ một đường ra 
Một là tử địa, hai là tù binh 
Hạ súng xuống rùng mình run rẩy 
Nghe pháo ta lừng lẫy thét gầm! 
Nghe trưa nay tháng năm, mùng bảy 
Trên đầu bay thác lửa hờn căm 
Trông: Bốn mặt lũy hầm sụp đổ 
Tướng quân bay lố nhố cờ hàng 
Trông: Chúng ta cờ đỏ sao vàng 
Rực trời đất Điện Biên toàn thắng! 
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên! 

Tiếng reo núi vọng sông rền 
Đêm nay chắc cũng về bên Bác Hồ 
Bác đang cúi xuống bản đồ 
Chắc là nghe tiếng quân hò quân reo... 
Từ khi vượt núi qua đèo 
Ta đi, Bác vẫn nhìn theo từng ngày 
Tin về mừng thọ đêm nay 
Chắc vui lòng Bác giờ này đợi trông! 

IV 

Đồng chí Phạm Văn Đồng 
Ở bên đó, chắc đêm nay không ngủ 
Tin đây Anh, Điện Biên Phủ hoàn thành 
Ngày mai, vào cuộc đấu tranh 
Nhìn xuống mặt bọn Bi-đôn, Smít 
Anh sẽ nói: "Thực dân, phát xít 
Đã tàn rồi! 
Tổ quốc chúng tôi 
Muốn độc lập hòa bình trở lại 
Không muốn lửa bom đổ 
xuống đầu con cái 
Nước chúng tôi và nước các anh 
Nếu còn say máu chiến tranh 
Ở Việt Nam, các anh nên nhớ 
Tre đã thành chông, sông là sông lửa 
Và trận thắng Điện Biên 
Cũng mới là bài học đầu tiên!"
*Một số bài hát về Điện Biên Phủ
+Giaỉ phóng Điện Biên
Nhạc phẩm Giải phóng Điện Biên của nhạc sĩ Đỗ Nhuận từ lâu đã trở thành tượng đài bằng âm thanh, một bản hùng ca bất hủ. Giải phóng Điện Biênđược chọn làm nhạc hiệu chính thức hàng ngày của Đài Tiếng nói Việt Nam. Nhân kỷ niệm 49 năm ngày giải phóng Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2003), chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc hoàn cảnh ra đời bài hát này.

Mùa xuân 1954, nhạc sĩ Đỗ Nhuận - Trưởng đoàn văn công Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam dẫn đoàn lên Tây Bắc tham gia ""Chiến dịch Trần Đình"" (mật danh của chiến dịch Biện Biên Phủ). Chiến dịch rất quyết liệt, kéo dài nên không được phép tập trung đông người để xem biểu diễn. Đoàn phải phân tán thành từng tốp từ 3 đến 5 diễn viên xuống tận chiến hào, vào từng hầm cấp cứu thương binh để biểu diễn phục vụ bộ đội, dân công. Không chỉ là nghệ sĩ, mỗi ca sĩ, nhạc công... đều là chiến sĩ thực thụ. Từ Trưởng đoàn đến diễn viên đều tham gia làm đường, tải đạn, lương thực, thực phẩm cho các đơn vị chiến đấu với tinh thần ""Tất cả để chiến thắng"".

Cuộc chiến kéo dài tới ngày thứ 50. Sáng hôm ấy, nhạc sĩ Đỗ Nhuận cùng anh chị em văn công đang san lấp hố bom dọc đường, gặp một cán bộ tuyên huấn mặt trận tìm đến. Với giọng nói đầy lạc quan, anh nói với nhạc sĩ Đỗ Nhuận như để mọi người cùng nghe: ""Thắng đến nơi rồi. Đỗ Nhuận phải sáng tác một ca khúc mừng chiến thắng, kẻo không đuổi kịp cánh lính bộ binh xung kích đó..."".

Đêm hôm ấy, nhạc sĩ Đỗ Nhuận ôm cây đàn ghi-ta bập bùng tìm giai điệu, tiết tấu và ca từ và rồi bỗng nhiên anh nẩy ra ca từ: ""Giải phóng Điện Biên, bộ đội ta tiến quân trở về, giữa mùa hoa nở miền Tây Bắc tưng bừng vui..."". Và, từ ấy hình ảnh và cảnh quan Tây Bắc cứ như một cuốn phim hiện lên trong ca từ của Đỗ Nhuận: ""Bản mường xưa nương lúa mới trồng, kìa đoàn em bé giữa đồng nắm tay xoè hoa"" (vũ điệu dân gian của đồng bào Thái)...

Trong một buổi gặp gỡ với báo giới, nhạc sĩ Đỗ Nhuận tâm sự: ""Mỗi người, mỗi gia đình, mỗi làng xóm đều hân hoan một niềm vui vô tận. Nhưng niền vui của cả dân tộc là vĩ đại, bởi đã giành được chiến thắng vinh quang trước kẻ thù. Trước hào quang toàn thắng, lòng tôi trào đang một niềm vui. Chân gõ nhịp để tìm tiết tấu và ca từ mà như muốn nhảy lên, reo lên: ""Ấy biết bao sướng vui, từ ngày lên Tây Bắc, đồng bào nao nức mong đón ta trở về..."". Khi say mê là thế, khi thanh thản tỉnh táo, tôi ý thức rằng giai điệu dân ca quan họ Bắc Ninh đã thấm đậm trong tâm hồn tôi tự bao giờ. Giai điệu ấy bắt nguồn từ bài dân ca quan họ Bắc Ninh: ""Ai xui lúa chín"". Trong bài dân ca đó có câu: ""Ấy mấy em nhớ ai, kia là ba bốn nhớ, ấy mấy ba bốn nhớ, chín mười chờ..."". Sở dĩ tôi viết thêm ca từ thứ hai là bởi giá trị lịch sử của nó. Trước khi mở màn chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, ta chủ trương: ""Đánh nhanh giải quyết nhanh"" trong ba bốn ngày là xong. Sau khi nghiên cứu lại tình hình bố phòng của giặc Pháp, chúng đã xây dựng cộng sự vững chắc, hoả lực mạnh, ta không thể tốc chiến tốc thắng được"".

Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, nhạc sĩ Đỗ Nhuận đã sáng tác ba nhạc phẩm: Hành quân xa, Chiến thắng Him Lam và Giải phóng Điện Biên trong không gian chiến tranh đầy quyết liệt và thời gian chưa đầy hai tháng, quả là một kỷ lục hiếm có. Vì vậy, năm 1996 ông đã được Nhà nước ta tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 1) với những nhạc phẩm xuất sắc như: Nhớ chiến khu, Du kích sống Thao, Việt Nam quê hương tôi.
Lời bài hát
Nhạc và lời: ĐỖ NHUẬN

Giải phóng Điện Biên bộ đội ta tiến quân trở về giữa mùa này hoa nở miền Tây Bắc tưng bừng vui
Bản mường xưa nương lúa mới trồng kìa đàn em bé giữa đồng nắm tay xòe hoa
Dọc đường chiến thắng ta tiến về đoàn dân công tiền tuyến vẫy chào pháo binh vượt qua
Súng đại bác quấn lá ngụy trang từng đàn bươm bướm trắng rỡn lá ngụy trang
Xiết bao sướng vui từ ngày lên Tây Bắc đồng bào nao nức mong đón ta trở về
Giờ chiến thắng ta đã về vui mừng đón chúng ta tiến về
Núi sông bừng lên
Đất nước ta sáng ngời cánh đồng Điện Biên cờ chiến thắng tưng bừng trên trời

Giải phóng miền Tây bộ đội ta đã mau trưởng thành thắng trận Điện Biên Phủ càng tin quyết tâm ở trên
Đổ mồ hôi phá núi bắc cầu vượt rừng qua suối đắp đường thắng lợi về đây
Phương châm đánh chắc ta tiến lên lực lượng như bão táp quân thù mấy cũng phải tan
Vang lừng tiếng súng khi mừng công thỏa lòng ta dâng Bác bấy lâu chờ mong
Xiết bao sướng vui nhìn đồng quê phơi phới nông dân hăng hái khi chúng ta trở về
Ruộng đất chúng ta đã về vui mừng đón chúng ta tiến về
Chiến sĩ Điện Biên
Thế giới đang đón mừng chiến dịch đại thắng lợi góp sức xây dựng hòa bình.
* Trên đồi Him Lam
lời bài hát
Hôm qua đánh trận Điện Biên
Chiến hào xuất kích đồi Him Lam ta tiến vào
Đột phá , tiêm đao tiến đánh vào.
Đi mở đường thắng lợi ba tháng đổ mồ hôi ta tới đây
Quyết diệt cho hết quân thù.
Chúng ta dốc lực sức ta lớn mạnh mau dồn lũ chúng nó xuống vực sâu.
Ở đây chúng ta không quên
Quê hương kia ruộng đất thân yêu đang chờ đợi
Đoàn quân đã đi là thắng.

Hôm qua pháo nổ Điện Biên
Lá cờ quyết thắng cầm trong tay ta tiến vào
Bộc phá nhắm lô-cốt đánh vào.
Khi mở “đột phá khẩu” máu đã đổ vì dân ta nhắc câu
Máu đổ ta tưới luống cày.
Căm thù lũ giặc quyết tâm ta vượt lên nợ máu chúng bay phải trả ngay.
Ở đây chúng ta không quên bao anh em đồng chí hy sinh trong trận này
Nguyện câu quyết tâm ta phải thắng. 

Hôm nay thắng trận đầu tiên 
Xác thù ngã xuống đồi Him Lam 
Ta cắm cờ đường mới chúng ta kéo pháo vào. 
Qua nhọc nhằn gian khổ ta thấu tỏ lòng dân ta tới đây góp lực để thắng trận này. 
Tin về thắng trận Bác Hồ rất mừng vui đồng lúa thắm tươi lại càng vui 
Ngày nay chiến công vinh quang đem dâng lên tổ quốc thân yêu đang đợi chờ. 
Điện Biên chúng ta sẽ toàn thắng
*Những hình vẽ về chiến dịch Điện Biên Phủ

* Những cảm nghĩ của em về chiến dịch Điện Biên Phủ
Chính nhờ vào sự thong minh khéo léo , chọn địa hình đúng đắn của Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Gíap và kết hợp với sự long yêu thương đất nước của các chiến sĩ đã giành được chiến thắng trong trận đánh Điện Biên Phủ chống thực dân Pháp
Em rất cám ơn các chiến sĩ và cả bác Hồ kính yêu và đại tướng Võ Nguyên Giap đã hi sinh mãnh liệt để giành được độc lập , giúp chúng cháu được học tập . Và chúng cháu xin hứa sẽ cố gắng học tập tốt để xây dựng đât nước mộ ngày giàu mạnh them . Để nước Việt Nam có thể sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới

Chia sẻ:

0 bình luận

Thích

Chia sẻ

Báo xấu

ll C H E R R Y ll tRấN

Tường nhà

ll C H E R R Y ll tRấN

mìn mún lập hội FC ai lập cho mìn mìn mang ơn nhìu

  • 0

  • 0

  • 0